
Ngoài ra, những nguyên nhân gây sẩy thai hoặc thai lưu liên tiếp bao gồm : rối loạn nhiễm sắc thể, lupus, hội chứng anti phospholipid, bệnh tự miễn, nhiễm trùng, bệnh mãn tính hoặc yếu tố môi trường.
Có năm nhóm nguyên nhân gây sẩy thai tự nhiên ở thai phụ.
Một là, thai phụ có bất thường cấu trúc tử cung do bẩm sinh (tử cung đôi, tử cung có sừng, vách ngăn, tử cung là một dãy xơ...) hoặc do mắc phải (u xơ tử cung, lạc nội mạc trong cơ tử cung, dính buồng tử cung sau khi hút nạo thai không đúng kỹ thuật, bị nhiễm trùng).
Khi tử cung có cấu trúc bất thường sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển của bào thai, làm tăng nguy cơ sẩy thai.

Hai là, thai phụ có bất thường về nội tiết, thường gặp nhất là thai phụ bị suy hoàng thể. Nếu vì lý do nào đó hoàng thể bị suy yếu, không cung cấp đủ nội tiết cho thai phát triển sẽ dẫn đến thai suy, không phát triển được.
Bất thường nội tiết còn hay gặp ở người bị hội chứng buồng trứng đa nang. Thai phụ bị hội chứng này rất khó có thai và khi có thai rất dễ bị sẩy nên phải dưỡng thai hết sức cẩn thận.

Ba là, thai phụ có bệnh lý nội khoa như bệnh lý tuyến giáp, tiểu đường, tim mạch, thiếu máu. Với những bệnh lý nội khoa này, nếu thai phụ chưa điều trị ổn sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển của thai nhi.

Bốn là, bất thường nhiễm sắc thể, đây là nguyên nhân rất thường gặp. Y văn ghi nhận 90% trường hợp sẩy thai tự nhiên có liên quan đến bất thường nhiễm sắc thể. Bất thường nhiễm sắc thể có thể do người chồng, do người vợ, do cả hai vợ chồng (hiếm gặp) hoặc do quá trình phân chia tế bào của hợp tử để tạo thành phôi thai có bất thường.

Năm là, yếu tố miễn dịch, thường là các rối loạn tự miễn như hội chứng Anti phospholipid. Khoảng 20% phụ nữ sảy thai liên tiếp sẽ được chẩn đoán nguyên nhân miễn dịch mà phổ biến nhất là Hội chứng anti phospholipid (APS). Phụ nữ mắc APS sẽ có xét nghiệm dương tính với anticardiolipin, yếu tố kháng đông lupus hoặc kháng thể anti-beta-microglobulin. Và có tiền sử tắc mạch hoặc các biến chứng thai kỳ như thai chậm tăng trưởng nặng trong tử cung, tiền sản giật nặng, thai chết trong tử cung hay sảy thai liên tiếp. Có nhiều thách thức trong chẩn đoán và điều trị đối với các trường hợp này.

.
Nếu bị hội chứng này, khi quá trình thụ thai bắt đầu sẽ xảy ra hiện tượng viêm và tắc mạch vi thể, gây thiếu máu nuôi thai dẫn đến thai ngừng phát triển. Có nhiều phương pháp điều trị có thể hạn chế các cơ chế sinh bệnh này. Sự kết hợp Heparin thuốc tiêm kháng đông máu chưa phân đoạn (Heparin tự nhiên) và Aspirin cho thấy có thể giảm tỉ lệ sảy thai và sự gia tăng khả năng sinh sống đã được báo cáo. Hai loại thuốc này có tác dụng chống sự hình thành huyết khối và điều hòa miễn dịch. Cả hai cơ chế này đều cho thấy mang lại tác dụng có lợi.
Xử trí tình huống : Khi đó, bác sĩ sẽ kiểm tra các bệnh nội khoa liên quan đến nội tiết và cấu trúc của tử cung, buồng trứng của người vợ; xét nghiệm nội tiết sinh dục của hai vợ chồng; thử tinh dịch đồ của chồng; xét nghiệm nhiễm sắc thể hai vợ chồng; xét nghiệm anti phospholipid.
Cụ thể như sau , nếu người vợ có u xơ tử cung sẽ được phẫu thuật bóc u xơ, nếu dính buồng tử cung sẽ phẫu thuật tách dính, nếu có bệnh nội khoa liên quan đến nội tiết sẽ chuyển đến bác sĩ chuyên khoa điều trị.
Nếu bất thường nhiễm sắc thể phải áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản: xin tinh trùng nếu tinh trùng của chồng bất thường, xin trứng nếu vợ bất thường hoặc xin phôi nếu cả hai vợ chồng đều bị bất thường nhiễm sắc thể (hiếm gặp).
Nếu thai phụ có hội chứng anti phospholipid sẽ được điều trị bằng Heparin trọng lượng phân tử thấp để giảm nguy cơ tạo ra huyết khối.
Nếu không tìm ra nguyên nhân, bác sĩ sẽ có chế độ dưỡng thai tích cực như bổ sung nội tiết cho thai phụ để dưỡng thai.
Trường hợp tử cung là một dãy xơ thì không can thiệp được nhưng đã có giải pháp nhờ người mang thai hộ.
PHÒNG KHÁM ĐÔNG Y PHÚC AN ĐƯỜNG
Địa chỉ: Hẻm 7A/43, Phòng Khám Số 71 Thành Thái, Phường 14, Quận 10, HCM
Điện thoại/ Zalo tư vấn : 0906 782 538
Email: buthoaycanh@gmail.com
Website: benhsuybuongtrung.vn