Việc áp dụng y học cổ truyền Trung Quốc trong IVF có thể mang lại lợi ích cho bệnh nhân không? Đây là một câu hỏi lớn mà ngay chính các bệnh nhân người Việt Nam chúng ta cũng đang rất quan tâm, nhưng lại không có câu trả lời ổn thoả. Phần lớn người bệnh hiện nay di uống thuốc bắc Đông y là tự phát và họ cũng không có cơ sở dữ liệu đê tin chắc vào việc mình làm. Nhưng qua việc đăng trích công trình nghiên cứu này tại Trung Quốc, chúng tôi hy vọng các bạn đã tìm thấy câu trả lời đó. Trung y Y học cổ truyền thực sự giúp ích làm tăng tỷ lệ thành công của thụ tinh ống nghiệm IVF và ICSI. Điểm mạnh chính của nghiên cứu này là thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, đa trung tâm với cỡ mẫu lớn, bao gồm các đơn vị sinh sản trên khắp Trung Quốc đại lục để khám phá hiệu quả và độ an toàn của Thuốc ZYP trong điều trị ARV. Ngoài ra, thử nghiệm có thời gian theo dõi dài, cho phép thu thập thông tin sinh sống và kết quả sơ sinh. Phác đồ điều trị dựa trên thực tiễn tốt nhất và được phát triển thông qua sự đồng thuận từ các bác sĩ lâm sàng chuyên gia. Mù vẫn còn nguyên vẹn ở cả hai nhóm trong toàn bộ nghiên cứu.
Khi làm ống nghiệm, bệnh nhân thường phàn nàn: "Hôm nay tôi chỉ lấy được một nang trứng rỗng". "Hôm nay nang trứng đã được dẫn lưu trước khi mổ và tôi cảm thấy lãng phí thời gian và tiền bạc của tháng này , chồng tôi đã bỏ công vô ích". 'Tôi rất không hạnh phúc." Cảm thấy như vậy là điều dễ hiểu. Tất nhiên, bác sĩ hy vọng sẽ giúp bạn lấy được trứng và tạo ra phôi tốt. Đây là nhiệm vụ của bác sĩ. Nhưng trong nhiều trường hợp, kết quả luôn không đạt yêu cầu, nhiều trường hợp sẽ có hiện tượng “trứng trống” và “trứng chạy” sau khi gây rụng trứng.
Niêm mạc tử cung mỏng là một trong những nguyên nhân gây chuyển phôi thất bại hàng đầu rất được các bệnh nhân cũng như các Bác sỹ đặc biệt quan tâm trong chu kỳ IVF. Niêm mạc tử cung mỏng cũng gây vô sinh ngay cả khi bạn muốn có thai tự nhiên là vì hợp tử tạo thành từ trứng và tinh trùng / gọi là phôi sẽ không thể làm tổ trên niêm mạc mỏng. Tất nhiên Tây y có nhiều phương pháp điều trị như : dùng thuốc nội tiết uống chuẩn bị niêm mạc loại estrogen như Progynova, Valiera hay tiêm huyết tương giàu tiểu cầu vào buồng tử cung để hồi phục tế bào đáy niêm mạc tổn thương. Tuy nhiên các phương pháp kể trên của Tây y bị thất bại khi gặp ca khó và chính vì lý do này mà chúng tôi giới thiệu Bài thuốc chữa niêm mạc tử cung mỏng trong y học cổ truyền.
Vị thuốc Thiến Thảo trong bài thuốc chữa xuất huyết giảm tiểu cầu tự miễn . Bài thuốc này là một trong nhiều bài thuốc của Y học cổ truyền Trung quốc phát minh, được ứng dụng trên lâm sàng tại các Bệnh Viện của Trung quốc và đã điều trị nhiều ca thành công có số liệu nghiên cứu thực tế.
Theo đông y hiện đại , chỉ số Prolactin cao là 1 trong những nguyên nhân dẫn tới không rụng trứng; Mà Prolactin cao là hậu quả từ rối lọan chức năng của ba tạng can , tỳ , thận kèm theo tình chí thất thường stress kéo dài. Chi tiết như sau : đầu tiên là thận âm hư không nuôi dưỡng được can huyết khiến can khí vượng lên. Can chủ sơ tiết, kinh túc quyết âm can trên đi vào bầu ngực gây tăng tiết sữa bất thường dù chưa có thai sinh con , mà dưới đi vào buồng trứng tử cung , nay can huyết không thể điều đạt xuống dưới làm thành kinh cho nên kinh kỳ chậm đến và chu kỳ kéo dài ra . Can khí vượng lên xâm khắc tỳ thổ, khiến tỳ thổ mất chức năng quản lý huyết dẫn tới lâm sàng khi có kinh thì có thể bị rong kinh , lúc không có kinh thì chu kỳ lại quá thưa . Đồng thời khí huyết của tạng tỳ bị uất kết dồn lên bầu ngực có thể hóa thành sữa tiết ra.
Giảm ham muốn tình dục ở nữ giới là tên gọi khác của hội chứng rối loạn ham muốn tình dục (HSDD) xảy ra ở phụ nữ. Đây là dạng rối loạn chức năng tình dục phổ biến nhất ở nữ giới mọi độ tuổi. Một nghiên cứu gần nhất cho thấy gần 1/3 phụ nữ trong độ tuổi từ 18 – 59 không có hứng thú với tình dục. Khác với chứng rối loạn chức năng cương dương ở nam giới, chứng rối loạn chức năng tình dục ở phụ nữ xuất phát từ các yếu tố thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy, đối với chị em phụ nữ, chỉ dùng thuốc thôi thì chưa đủ để cải thiện tình hình.
Bệnh polyp tử cung ( cổ tử cung, lòng tử cung ) là tình trạng tăng sản bất thường của tế bào niêm mạc tử cung. Nguyên nhân phát sinh polyp được cho là có sự thặng dư estrogen máu kết hợp với sự tổn thương tế bào niêm mạc do viêm nhiễm mãn tính ( viêm cổ tử cung, viêm niêm mạc tử cung, viêm âm đạo ... ) và có thêm những yếu tố khác nữa đã kích hoạt quá trình tăng sinh này . Nói như thế để chúng ta biết rằng không phải bất cứ ai bị dư hocmon nữ cũng đều phát sinh polyp. Polyp có kích thước nhỏ từ vài milimet đến vài centimet và có hình dáng như ngón tay, bóng đèn hoặc dạng nấm, có thể mọc thành từng chùm hoặc đơn độc. Polyp có màu hồng nhạt, mềm và dễ chảy máu nếu chạm vào. Mọc trên bề mặt cổ tử cung hoặc bên trong ống cổ tử cung hay lòng tử cung, một số trường hợp đặc biệt có thể thò ra ngoài qua cổ tử cung và nằm bên trong âm đạo. Polyp tử cung nói chung là bệnh lành tính, không gây nhiều nguy hiểm và không ảnh hưởng đến việc sinh em bé. Tuy nhiên, có một số trường hợp hiếm ung thư cổ tử cung xuất phát từ polyp cổ tử cung và nguyên nhân do virus HPV.
Nguyên nhân hình thành U nang : do rối loạn quá trình Apotosis - Lập trình về qúa trình chết của tế bào – Bất cứ tế bào nào trong cơ thể cũng có 1 thời gian sống nhất định và khi hết thời gian đó tế bào sẽ gìa nua thoái hoá và biến mất . Tế bào trứng trong buồng trứng cũng thế. Nhưng ở đây ,các tế bào trứng ko thoái hoá biến mất mà lại tăng sinh tiếp tục phát triển rất nhanh tập hợp lại với nhau hình thành nên các khối U nang gọi là U nang buồng trứng vì chúng xuất hiện tại buồng trứng. Như vậy về thực chất U nang buồng trứng chính là các tế bào trứng nhưng chúng đã bị biến chất , rối loạn thông tin và mất năng lượng.
Những nguyên nhân nào khiến bạn chuyển phôi thất bại ? cho đến nay lý do thất bại chuyển phôi mà chúng ta thường biết có thể kể sơ lược đó là : Niêm mạc tử cung mỏng, dính tử cung dù đã phẫu thuật , người vợ có chỉ số NK cao tức là kháng thể đào thải phôi chuyển tập trung trên bề mặt niêm mạc tử cung. Tắc vòi trứng ứ dịch buồng tử cung chưa xủ lý hết, vết mổ cũ sau khi sinh mổ gây ứ dịch, người vợ có bệnh tiểu đường hoặc tuyến giáp tái phát đúng vào thời gian chuyển phôi và mang thai quí đầu ,.. phôi có lỗi do người chồng tinh trùng bị đứt gãy ADN cao, người vợ mắc hội chứng kháng Antiphospholipid tạo ra cục máu đông gây tắc mạch/ một kiểu bệnh rối loạn tự miễn và sau cùng là bất thường nhiễm sắc thể ở một hay cả hai vợ chồng.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sảy thai liên tiếp, trong đó, phổ biến nhất là các nguyên nhân do: Bất thường về miễn dịch và hormone. Rối loạn nhiễm sắc thể và gen di truyền, dị tật nặng. Bất thường trong cấu trúc giải phẫu tử cung của người phụ nữ. Nhiễm trùng. Không rõ nguyên nhân sảy thai. Nếu sảy thai dưới 12 tuần thì 70% do thai bị rối loạn nhiễm sắc thể, dị tật nặng, nhiễm trùng, các bệnh lí nội tiết của mẹ. Trường hợp sảy thai trên 12 tuần thường do nguyên nhân bất thường tử cung của mẹ, tiền sản giật, sản giật, nhiễm trùng, mẹ bị các bệnh nội tiết như tiểu đường, suy giáp, lupus,..
Buồng trứng là cơ quan sinh sản chính cực kỳ quan trọng của nữ giới cũng như tinh hoàn ở nam giới . Nếu không có buồng trứng hay bị dị tật bẩm sinh đột biến gien gây ra mất trứng thì làm sao có thể có thai, giống như đàn ông mà không có tinh trùng thì chỉ còn cách đi xin tinh trùng thôi. Vì thế tất cả những bệnh lý tại buồng trứng đều khiến nữ giới phải đặt quan tâm lên hàng đầu. Những rắc rối về bệnh lý hay gặp nhất tại buồng trứng đó là Hội chứng buồng trứng đa nang AMH cao, suy buồng trứng sớm AMH thấp có Fsh cao, viêm buồng trứng, u nang buồng trứng gây tụt AMH phá hỏng nang noãn và cuối cùng là lạc nội mạc tử cung buồng trứng gây hỏng buồng trứng.
Bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch (Immune Thrombocytopenic Purpura - ITP) là tình trạng tiểu cầu trong máu ngoại vi bị phá huỷ ở hệ liên võng nội mô do sự có mặt của tự kháng thể kháng tiểu cầu. - Bệnh có thể diễn biến cấp tính, mạn tính, tái phát. Thể cấp tính, số lượng tiểu cầu trở về bình thường (> 150 G/L) trong vòng 6 tháng và không tái phát. Thể mạn tính, số lượng tiểu cầu vẫn giảm sau 6 tháng điều trị. Thể tái phát là tình trạng số lượng tiểu cầu đã trở về bình thường sau đó lại giảm và diễn ra nhiều lần.